Về trường phái chuyển nhượng của Arsene Wenger theo kiểu bài Poker.

Mùa hè năm 2012, Alex Ferguson dành tặng cho Arsene Wenger một sự kính trọng lớn nhất khi cho rằng quý ông người Pháp có thể mở một trường dạy chơi bài Poker tại quê nhà Govan, sau khi nếm trải chiến thuật mặc cả của ông trong thương vụ Robin Van Persie trong cùng kì chuyển nhượng. Đó là một lời khen ngợi có thể không giành được nhiều sự trân trọng bởi cổ động viên, những người đã nếm trải cảm giác tổn thương sâu sắc khi phải chứng kiến cái tên lớn thứ ba rời đội sau hai năm liên tiếp. Wenger đã cho rằng chỉ có thời gian mới có thể trả lời liệu ai đã là người có được thắng lợi sau cùng trong thương vụ ấy.

Một phần nhỏ trong lịch sử của Arsene Wenger

Wenger đã bị ép buộc phải thừa nhận rằng mình đã bán cho Man United chức vô địch và điều đó đã diễn biến chính xác như vậy trong mùa giải 2012/13. Mặc dù vậy, có khá nhiều cổ động viên của Arsenal đã chỉ ra rằng với 24 triệu bảng chảy vào két của Arsenal, Man United chỉ nhận lại được một mùa giải tốt thật sự từ Robin Van Persie. Rất nhiều cổ động viên của Man United đã đáp trả lại rằng chỉ một mùa giải xuất sắc tại Old Trafford của tiền đạo Hà Lan mang lại một chức vô địch quốc nội, nhiều hơn những gì mà Pháo Thủ đã đạt được kể từ năm 2012.

Ai mới là người thắng cuộc trong thương vụ đó sẽ còn là đề tài tranh cãi trong nhiều năm nữa, đặc biệt là với những vấn đề liên quan đến chuyển nhượng, nhưng bức tranh toàn cảnh cần phải tập trung vào ở đây dĩ nhiên là xem xét việc liệu Arsenal có được hưởng lợi từ trường học chuyển nhượng theo phong cách chơi bài poker của Wenger trong hai mươi mốt năm tại vị hay không. Tuy vậy, điều đầu tiên vẫn là cần nhìn lại bối cảnh đội bóng khi quý ông người Pháp đặt chân đến Highbury.

Những năm tháng HIGHBURY

Giai đoạn trước năm 1996, Highbury là một nơi mà kể từ thương vụ chuyển nhượng của bộ đôi người Ireland Liam Brady và Frank Stapleton vào đầu những năm 1980, chưa bao giờ phải mất đi những tên tuổi lớn, đang ở đỉnh cao sự nghiệp, những người mà Arsenal thật sự mong muốn giữ lại. Cũng trong khoảng thời gian đó, Highbury là nơi đã vượt mặt nhiều đội bóng khác để bỏ túi những tên tuổi lớn trong các kì chuyển nhượng.

Cái tên đáng chú ý nhất trong giai đoạn hoàng kim đó kể từ những năm 1980 phải là Charlie Nicholas, người chuyển đến từ Celtic sau khi kết thúc mùa giải 1982/83 với danh hiệu vua phá lưới phía Bắc vương quốc Anh, bỏ túi 48 bàn sau 74 trận cho The Celts và nhận được những lời đề nghị từ nhà vô địch FA Cup Man United và đội về nhất trong giải quốc nội Liverpool.

“Charlie Nick” là một người hùng của North Bank (một khán đài của Highbury) trong giai đoạn giữa cho đến cuối thập niên 80 và đã ghi hai bàn thắng tại Wembley trong trận chung kết League Cup năm 1987 để kết thúc cơn khát danh hiệu kéo dài tám năm. Mặc dù vậy, anh vẫn không có sự thể hiện ấn tượng trên sân và đỉnh điểm là không thể hòa nhập với chiến thuật của George Graham, người đã bán anh cho Aderdeen vào tháng một năm 1988.

Triều đại GEORGE GRAHAM

Graham nổi tiếng là người không bao giờ dung túng cho “thái độ ngôi sao”, thứ mà ông được chứng kiến một thập kỉ sau đó ở David Ginola, người mà Graham được thừa hưởng tại Spurs và sau đó phải ra đi không kèn không trống đến Aston Villa. Kí kết hợp đồng với các ngôi sao là điều không thật sự tồn tại ở Highbury dưới triều đại của ông. Cả Alan Smith và David Seaman đều là những cái tên được khao khát tại cấp độ cao nhất của bóng đá Anh tại thời điểm họ cập bến, nhưng nhiệm kỳ của Graham được chú ý nhiều hơn bởi những cái tên hụt ăn, như John Barnes, Peter Beardsley, Ray Houghton, Tony Cottee, Alan Shearer và Roy Keane.

Những ngày ấy, Arsenal đã theo đuổi gắt gao các cái tên kể trên, nhưng sự miễn cưỡng trong việc trả giá quá cao hay phá vỡ cấu trúc lương của Highbury khiến họ bị nẫng tay trên bởi các đối thủ khác. Thay vào đó sự thành công của Graham được xây dựng trên một hệ thống đào tạo trẻ hiệu quả mà ông đã được thừa hưởng từ người tiền nhiệm, Don Howe, và những chữ ký từ các giải đấu cấp độ thấp hơn như Lee Dixon và Steve Bould. Tính đến năm 1995, phương thức chuyển nhượng đã mang đến những phần thưởng tương đối, tuy vậy hệ thống đạo tạo trẻ đã không còn cho ra lò được những cái tên xuất sắc, trung thành với đội bóng như mười năm trước đó nữa, đặc biệt là điều này lại đến vào lúc Premiership bắt đầu thu hút những tên tuổi lớn từ nước ngoài như Jurgen Klinsmann tại Spurs.

DAVID DEIN RA TAY

Sự ra đi của Graham vào năm 1995 chứng kiến sự thay đổi trong chính sách chuyển nhượng tại Highbury mà đầu tiên là việc David Dein nhúng tay mạnh mẽ vào công tác thương thảo chuyển nhượng. Trước đó, Graham đã ‘luôn nói với David rằng tôi muốn làm việc một mình’. Bốn tháng sau đó, Arsenal phá vỡ kỉ lục chuyển nhượng với mức giá cao gấp ba lần cho Dennis Bergkamp từ Inter Milan. Chữ ký của Bergkamp cũng phá vỡ cấu trúc lương tại đội bóng với việc thiên tài người Hà Lan là cầu thủ được trả lương cao nhất tại Anh quốc giai đoạn ấy.

Phương thức tiếp cận mới tại Highbury còn được gạch chân đậm hơn nữa chỉ trong vòng một tháng sau với việc Arsenal ném 7 triệu bảng cho Sampdoria để đổi lấy chữ kí của David Platt, đánh bại cả Man United và Spurs. Một năm sau đó, Dein mang Arsene Wenger đến sau khi đá Bruce Rioch ra đường chỉ sau một mùa giải.

ARSENE WENGER cập bến

Năm năm tiếp theo, Arsenal vẫn tiếp tục đưa về đội những tên tuổi lớn từ khắp châu Âu, những người gặp rắc rối với phong độ tại thời điểm đó như nhà vô địch European Cup Marc Overmars từ Ajax năm 1997, Nwankwo Kanu từ Inter Milan, nhà vô địch World Cup Thierry Henry từ Juventus, nhà vô địch Euro tại Pháp năm 2000 Sylvain Wiltord và Robert Pires, nhà vô địch Dutch Cup Giovanni Van Bronckhorst, cũng như đánh bại những Inter, Man United và Barcelona để có được chữ ký của Sol Campbell bằng cách biến anh thành cầu thủ đầu tiên tại Anh quốc kiếm được sáu chữ số một tuần. Ngược lại, Wenger cũng đưa về sản phẩm của lò đào tạo của Monaco Emmanuel Petit và Gilles Grimandi, những người còn khá vô danh tại thời điểm ấy.

Mặc dù vậy, đã có những sự thay đổi lớn tác động đến chính sách chuyển nhượng ở thời điểm đó với việc luật Bosman được ban hành bởi tòa án công lý châu Âu (European Court of Justice) vào năm 1995. Cầu thủ được cho phép ra đi theo dạng chuyển nhượng tự do khi hợp đồng hết hạn.

Trước đó, một cầu thủ chỉ có thể ra đi theo dạng tự do nếu đội bóng chủ quản thất bại trong việc gia hạn với anh ta bằng một hợp đồng mới có những điều khoản không thấp hơn so với hợp đồng trước đó. Nếu đội bóng cũ đề nghị một hợp đồng mới ít nhất ngang bằng với cái cũ, đội bóng đó vẫn có thể yêu cầu một mức phí bồi thường để đổi lại cho sự ra đi của cầu thủ.

Bộ luật mới cũng chấm dứt sự tồn tại của quy định giới hạn số lượng cầu thủ nước ngoài trong chuyển nhượng. Arsenal được hưởng lợi từ điều này với thương vụ Marc Overmars (từ sự tan rã của đội hình nhiều cầu thủ bản địa – home grown – nhất từng vô địch Champions League) và Sol Campbell (Spurs bất lực trong việc ngăn cản đội trưởng của mình băng qua con đường Seven Sisters để gia nhập đại kình địch).

Học thuyết về kinh tế chuyển nhượng

Arsene Wenger bước chân vào bóng đá với một tấm bằng thạc sỹ kinh tế từ trường đại học Strasbourg và có thể cho rằng ông là người tiếp cận với chuyển nhượng có phương pháp hơn đa số các huấn luyện viên khác trong nghề. Trong cuốn ‘Inside Story’ – tự truyện của cựu chủ tịch FA Greg Dyke – nói về khoảng thời gian ông làm giám đốc tại Man United, ông phát biểu rằng đặc tính tổng quan của việc kiếm một số tiền nhỏ từ bóng đá vào thời gian đó là phải ‘bắt đầu với một số tiền lớn’ và:

‘Gần như chẳng có ai – không phải là huấn luyện viên, cầu thủ, nhân viên đội bóng và chắc chắn rằng không phải các cổ động viên – quan tâm đến việc bạn làm ra tiền’.

Góc nhìn về chuyển nhượng của Wenger có đôi chút khác biệt. Ông đứng từ vị trí của một nhà kinh tế, xem các cầu thủ như những tài sản và quan tâm nhiều đến giá trị của họ: mua rẻ, bán đắt.

Chữ ký đầu tiên tại Highbury dưới sự đề nghị của ông là Patrick Vieira với mức giá 3.5 triệu bảng, ngay dưới mũi của Ajax. Trong vòng một năm sau đó là sự cập bến của Nicolas Anelka từ Paris St. Germain với chỉ 500,000 bảng bằng việc lợi dụng kẽ hở trong hệ thống chuyển nhượng của Pháp.

Người đầu tiên được bán cho Juventus với cái giá 13.7 triệu bảng chín năm sau đó, trong khi người còn lại chuyển đến Real Madrid vào năm 1999, giúp đội bóng thu về 22.3 triệu bảng. Mặc dù vậy, sự ra đi của Anelka đánh giá một bước chuyển mình trong công tác chuyển nhượng của Arsenal.

Mười ba năm trước đó, thương vụ chuyển nhượng đầu tiên của George Graham là bán một cầu thủ trẻ mười chín tuổi đang tiến bộ rõ rệt Martin Keown cho ứng cử viên xuống hạng Aston Villa với cái giá 250,000 bảng chỉ vì từ chối yêu cầu tăng mức lương thêm 50 bảng một tuần từ anh. Graham sau đó đã phải trả một cái giá gấp mười lần như vậy để đưa Keown trở lại với Highbury bảy năm sau đó, nhưng cùng với đó là sự ra đi của Stewart Robson – cầu thủ xuất sắc nhất dưới sự bình chọn của hội cổ động viên Arsenal mười hai tháng trước – vin vào lý do dám cãi lại huấn luận viên, điều này khắc sâu vào tâm trí các cầu thủ rằng huấn luận viên không chấp nhận sự tùy tiện trong đội.

Câu chuyện về Anelka lại đảo ngược vấn đề. Wenger đã bán Ian Wright để đưa Anelka lên hàng ngũ những cái tên thường xuyên có mặt trong đội hình ra sân. Mặc dù London chỉ cách quê nhà Paris vài giờ đồng hồ di chuyển qua đường hầm châu Âu (Euro Tunnel), báo chí nước Anh lại truyền tai nhau câu chuyện Anelka ‘cảm thấy chán ở London’ và ‘tôi không có bạn và cũng không muốn kết bạn với ai cả. Tôi không nghĩ rằng mình sẽ đi đến cuối hợp đồng tại đây’.

Anelka sau đó được gắn với biệt danh ‘the Incredible Sulk’ – ‘anh chàng hờn dỗi’, có vấn đề với người đồng đội Marc Overmars cũng như chịu sự tác động lớn của các anh (em) mình, Claude và Didier. Vào mùa hè năm 1999, Anelka chuyển đến Real Madrid. Arsenal hưởng lợi lớn nhưng điều này lại mang đến cảm giác rằng Graham, người tuyên bố sẽ không bao giờ giữ lại những cầu thủ mang cho ông cảm giác rằng họ ra sân là để ban ơn cho đội bóng, sẽ có thể nhìn ra được tính cách của Anelka sớm hơn và tống cổ anh khỏi Highbury sớm hơn rất nhiều.

Tiền lệ không mong muốn mà Anelka tạo ra được Jon Spurling miêu tả tỉ mỉ trong cuốn sách ‘Rebels for the Cause’ vào năm 2003, anh đã dành hẳn nguyên một chương chỉ để nói về vấn đề này:

‘Cũng như Brady và Stapleton những năm đầu thập niên 80, anh ta (Anelka) tạo cho chúng tôi cảm giác không thoải mái với chính bản thân mình… Pháo Thủ lại được phong danh hiệu chẳng ai muốn ‘câu lạc bộ chuyên bán’ một lần nữa. Ở trên sân khấu châu Âu, Arsenal được ban ơn bởi những đội bóng La Liga giàu có hơn.’

Leave a Reply

*