Thông tin câu lạc bộ Leicester City

Tên đầy đủ: Leicester City Football Club

Thành lập: Câu lạc bộ được thành lập năm 1884 với tên gọi Leicester Fosse.

Chủ tịch: Vichai Srivaddhanaprabha

Sân vận động: King Power.

Biệt danh: The Foxes

1. Lịch sử thành lập.

– Được thành lập vào năm 1884 với tên gọi là Leicester Fosse, câu lạc bộ đã gia nhập Hiệp hội Bóng đá (FA) vào năm 1890.

-Trước khi chuyển đến Filbert Street vào năm 1891, câu lạc bộ chơi ở năm khu vực khác nhau, bao gồm Victoria Park về phía Đông Nam của trung tâm thành phố và Chu kỳ đường Belgrave và Sân Cricket.

-Câu lạc bộ gia nhập Midland League năm 1891. Trận đấu bóng đá đầu tiên của Leicester là trận thua với tỷ số 4-3 tại Grimsby Town, và chiến thắng đầu tiên trong tuần tiếp theo khi đối đầu với Rotherham United tại Filbert Street.

-Mùa giải đó cũng là giai đoạn chứng kiến chiến thắng lớn nhất của câu lạc bộ từ trước đến nay với chiến thắng 13-0 trước Notts Olympic trong một trận đấu vòng loại FA Cup.

– Vào năm 1907–08, câu lạc bộ kết thúc giải đấu với tư cách là đội hạng hai, được thăng hạng lên Hạng Nhất, một cấp độ cao nhất của bóng đá Anh. Tuy nhiên, câu lạc bộ đã xuống hạng sau một mùa giải duy nhất khi thất bại thảm hại vưới tỷ số 12–0 trước Nottingham Forest.

– Năm 1919, sau Thế chiến thứ nhất, Leicester Fosse đã dừng hoạt động do những khó khăn tài chính. Sau đó, câu lạc bộ được đổi tên thành “Câu lạc bộ bóng đá thành phố Leicester”.

-Sau sự thay đổi tên, câu lạc bộ gặt hái được một số thành công trong những năm 1920 dưới sự quản lý của Peter Hodge, người được Willie Orr thay thế hai tháng sau đó, ông đã giúp đội bóng giành chức vô địch mùa giải 1924–25

-Tuy nhiên những năm 1930 là giai đoạn câu lạc bộ bị suy sụp dần, họ bị xuống hạng những năm 1934–35 và sau đó lại được thăng hạng vào năm 1936–37.

– Leicester Fosse đã tham gia trận chung kết FA Cup lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 1949 và bị thua 3–1 trước Wolverhampton Wanderers. Tuy nhiên, ngay sau đó 1 tuần, câu lạc bộ đã cầm hòa vào ngày cuối cùng của mùa giải.

-Năm 1954, Leicester giành chức vô địch Division Two với sự giúp đỡ của Arthur Rowley, một trong những tiền đạo xuất sắc nhất của câu lạc bộ. Mặc dù họ bị xuống hạng từ Division One mùa giải trước, nhưng dưới thời Dave Halliday họ đã trở lại vào năm 1957, với một bàn thắng kỷ lục trong tổng số 44 bàn của mùa giải.

-Dưới sự quản lý của Matt Gillies và trợ lý của ông là Bert Johnson, Leicester đã lọt vào chung kết FA Cup hai lần, nhưng sau đó cả hai năm 1961 và 1963 họ lại để thua Tottenham Hotspur.

-Năm 1986 Milne rời đi và David Pleat lên thay thế vào năm 1987, lúc đó Leicester có nguy cơ xuống hạng.

-Trong những lần ra sân ở châu Âu của Leicester đã kết thúc trong trận thua 3-1 trước Red Star Belgrade vào ngày 28 tháng 9 năm 2000 tại UEFA Cup. Leicester bắt đầu tốt hơn dưới sự quản lý của Taylor.

– Leicester trở lại giải vô địch lần đầu tiên trong mùa giải 2008–09, kết thúc với chức vô địch League One sau chiến thắng 2–0 tại Southend United.

– Mùa giải 2009–10 chứng kiến sự phục hưng của Leicester dưới sự quản lý của Nigel Pearson, câu lạc bộ đạt được chức vô địch trong mùa giải đầu tiên của họ ở hạng hai.

-Vào cuối mùa giải, Pearson rời Leicester để trở thành người quản lý của Hull City, vì ông cảm thấy câu lạc bộ không còn muốn giữ ông ở lại . Vào ngày 7 tháng 7 năm 2010, Sousa được xác nhận là người thay thế Pearson.

-Trong năm 2014, Leicester có một cuộc diễu hành sau một giải đấu đột phá. Chiến thắng 2–1 trên sân nhà trước Sheffield Wednesday, kết hợp với sự thua lỗ của Queens Park Rangers và Derby County, cho phép Leicester City có được sự thăng tiến lên Premier League sau 10 năm vắng bóng.

-Cuối tháng đó, một chiến thắng tại Bolton đã khiến Leicester trở thành nhà vô địch của Giải vô địch 2013–14, lần thứ bảy họ trở thành nhà vô địch hạng nhì của nước Anh.

-Leicester đã giành chức vô địch Premier League vào ngày 2 tháng 5 năm 2016 sau khi Tottenham để thua 0-2 trước Chelsea, hòa 2–2 tại trận Stamford Bridge. Đây được cho là mùa giải chói sáng và bất ngờ nhất lại Ngoại hạng Anh.

– Cuối mùa ngôi sao N.Kante đã được Chelsea mua về.

-Bình luận về trận đấu đầu tiên của mùa giải 2017–18 của Leicester khi để thua tỷ số 3-4 trong trận đấu với Arsenal, tờ The Guardian cho rằng Vardy rất phù hợp với đội bóng hiện tại của Leicester.

-Shakespeare bị sa thải trong tháng 10 năm 2017 sau bốn tháng chính thức phụ trách, với Leicester ở vị trí thứ 18 trong bảng. Sau đó, Claude Puel được bổ nhiệm làm HLV mới của Leicester vào ngày 25/10/2017. Vào dịp Giáng sinh, Leicester đứng thứ 8 tại Premier League.

2. Thông tin mới nhất về Leicester City

2.1 Tin chuyển nhượng Leicester City

– Hiện tại, thị trường chuyển nhượng ở Ngoại hạng Anh đã đóng cửa, các đội bóng chỉ được bán cầu thủ và không có quyền mua về.

– Mùa hè này, câu lạc bộ đã bán đi tiền đạo ngôi sao Riyad

Mahrez cho Man City với giá 67,8 triệu Euro.

– Đội bóng đã mang về hậu vệ Ricardo Pereira từ Porto vớ giá 25 triệu Euro, trung vệ Jonny Evans từ Stoke

City với giá 3,98 triệu Euro, tiền vệ James Maddison từ Norwich với giá 25,1 triệu Euro, thủ môn Danny

Ward từ Liverpool với giá 14 triệu Euro, tiền đạo Rachid

Ghezzal với giá 14 triệu Euro, Caglar Soyuncu với giá 21,1 triệu Euro, Filip Benkovic là 14,5 triệu Euro.

2.2 Đội hình Leicester City 2018

Với sự tích cực trên thị trường chuyển nhượng hè 2018, Leicester City sẽ có đội hình khá ổn định. Họ vừa có trận ra quân Premier League 2018-209 với trận thua 1-2 trước Man United.

– Đội hình Leicester City: 1.K. Schmeichel, 18.D. Amartey, 3.B. Chilwell, 23.Adrien Silva, 5.W. Morgan, 15.H. Maguire, 14.Ricardo Pereira, 25.W. Ndidi, 8.K. Iheanacho, 10.J. Maddison, 7.D. Gray.

3. Danh hiệu

– Vô địch Hạng Nhất / Premier League 1 lần vào mùa 2015-2016. Đội bóng giành Á quân 1 lần vào năm 1928-1929

– Vô địch giải hạng 2 với 7 lần vào các mùa giải: 1924–25, 1936-1937, 1953-1954, 1956–57, 1970-1971, 1979–80, 2013–14. Á quân 2 lần vào mùa giải: 1907-1908, 2002-2003

– Vô địch hạng 3/Football League One 1 lần vào mùa 2008-2009

– Vô địch FA Charity Shield vào năm 1971

– Á quân Cúp FA 1948-1949, 1960-1961, 1962-1963, 1968-1969

 

Quang Dự

Huấn luyện viên

Klopp, Jurgen
Quốc gia: Đức

Cầu thủ

2
Hậu vệ
Quốc gia: Anh
05/04/1991
3
Tiền vệ
Quốc gia: Brazil
23/10/1993
4
Hậu vệ
Quốc gia: Hà Lan
08/07/1991
5
Tiền vệ
Quốc gia: Hà Lan
11/11/1990
6
Hậu vệ
Quốc gia: Croatia
05/07/1989
7
Tiền vệ
Quốc gia: Anh
04/01/1986
8
Tiền vệ
Quốc gia: Guinea
10/02/1995
9
Tiền đạo
Quốc gia: Brazil
02/10/1991
10
Tiền đạo
Quốc gia: Senegal
10/04/1992
11
Tiền đạo
Quốc gia: Ai Cập
15/06/1992
12
Hậu vệ
Quốc gia: Anh
23/05/1997
13
Thủ môn
Quốc gia: Brazil
02/10/1992
14
Tiền vệ
Quốc gia: Anh
17/06/1990
15
Tiền đạo
Quốc gia: Anh
01/09/1989
18
Hậu vệ
Quốc gia: Tây Ban Nha
05/07/1992
20
Tiền vệ
Quốc gia: Anh
10/05/1988
21
Tiền vệ
Quốc gia: Anh
15/08/1993
22
Thủ môn
Quốc gia: Bỉ
06/03/1988
23
Tiền vệ
Quốc gia: Thụy Sỹ
10/10/1991
24
Tiền đạo
Quốc gia: Anh
01/04/2000
26
Hậu vệ
Quốc gia: Scotland
11/03/1994
27
Tiền đạo
Quốc gia: Bỉ
18/04/1995
29
Tiền đạo
Quốc gia: Anh
14/09/1997
32
Hậu vệ
Quốc gia: Cameroon
08/08/1991
48
Tiền vệ
Quốc gia: Anh
30/01/2001
50
Tiền vệ
Quốc gia: Serbia
02/03/1994
53
Tiền vệ
Quốc gia: Anh
18/11/1997
64
Tiền đạo
Quốc gia: Bồ Đào Nha
22/05/2000
66
Hậu vệ
Quốc gia: Anh
07/10/1998
73
Thủ môn
Quốc gia: Ba Lan
08/01/1999