Cùng tìm hiểu về các thuật ngữ chiến thuật trong bóng đá

Hãy cùng tructuyenbongda tìm hiểu về các thuật ngữ chiến thuật trong bóng đá hiện đại. Những thuạt ngữ được các nhà phân tích bóng đá rất hay sử dụng khi xem 1 trận đấu.

Từ vựng trong không gian chơi bóng (playing field):

– Channels: Trong bóng đá hiện đại, khi bạn nghe các bình luận viên nói “player ABC moves into channels” thì nó thường có nghĩa là một tiền đạo cánh di chuyển/đột nhập vào khoảng trống ở giữa hậu vệ cánh kèm anh ta và trung vệ lệch cùng cánh. Vì vậy “channels” cũng được dùng với ý nghĩa là nách giữa trung vệ và hậu vệ cánh hoặc đôi khi là khoảng trống giữa một cầu thủ ở cánh và một điểm chết bất kỳ (ví dụ như đường biên).

– Passing Lane: là một đường thẳng vô hình thể hiện hướng chuyền bóng sao cho cầu thủ đối phương không có khả năng cản phá. Passing lane thường được sử dụng để miêu tả không gian trống giữa 2 cầu thủ phòng ngự đối phương bằng những phân tích như “tìm ra passing lane”.

– Middle & Final Third: Trong quá khứ, chiến thuật bóng đá thường chia sân bóng ra làm 3 phần bằng nhau: 2 phần Final Third và một phần Middle Third. Phần final third ở sân nhà gọi là defensive third, ngược lại là attacking third.

– Zone: Một lý thuyết chiến thuật hiện đại hơn, trong đó chia sân bóng ra làm 18 khu vực (zone), mục đích để kiểm soát cụ thể vai trò của từng zone trọng yếu trên sân (ví dụ như Zone 14 rất quan trọng).

– Width: Cự ly đội hình, là khoảng cách từ cầu thủ gần đường biên nhất ở cánh này so với cầu thủ xa nhất ở cánh đối diện. Thông thường, khi ta nói các đội bóng chơi kiểm soát muốn kéo dãn đội hình đối phương, tức là họ đang “kéo width” cho rộng hết mức có thể.

– Half-space: Khu vực dịch theo một số ông tổ ngành phân tích bóng ở Việt Nam là “hành lang trong”. 

– Lines: Thường được sử dụng với ý nghĩa phòng thủ, một “line” nhằm ý chỉ những cầu thủ thi đấu trên cùng một “dây” trong hệ thống chiến thuật. Ví dụ, 4 cầu thủ phòng ngự trong sơ đồ 4-3-3 là line thứ nhất, 3 tiền vệ là line thứ hai và 3 tiền đạo là line thứ ba. Các cầu thủ nhạy bén về không gian sẽ thường hay chơi theo kiểu “between the lines”, tức là đặt mình vào vị trí ở giữa các đường phòng ngự để gây bối rối cho người kèm mình hoặc làm line đó bị lệch.

 Từ vựng trong chiến thuật và bài vở căn bản (tactical):

-Build-up: Giai đoạn được tạm dịch là “triển khai bóng”, trong đó bắt đầu bằng việc đội kiểm soát bóng di chuyển hướng bóng lên từ tuyến dưới thông qua các cầu thủ chơi thấp nhất (thủ môn/hậu vệ) còn các thủ còn lại thì di chuyển về phía trước (forward) để tạo nên shape đội hình đúng theo bài vở của HLV.

– Transition: Chuyển tiếp từ phòng ngự sang tấn công hoặc ngược lại.

– Overlap: Hành động tấn công ở biên trong đó một cầu thủ sẽ chạy về phía bên ngoài của đường biên so với cầu thủ chuyền để nhận đường chuyền ra phía ngoài (outside) của hậu vệ cánh đối diện.

– Underlap: Ngược lại với overlap, theo đó đường chuyền sẽ hướng về nách giữa hậu vệ cánh và trung vệ để cầu thủ chạy cánh vòng qua sau lưng người kèm cặp.

– Overload: Sử dụng nhiều cầu thủ dồn về một cánh trong tình huống tấn công để tạo thế lợi thế về quân số.

– Compact: Cô đặc đội hình vào một khoảng không gian trên sân, thường để hạn chế không gian hoặc pressing, không cho đối thủ lên bóng.

Messi là một Man Mark đích thực

– Man mark: Sử dụng 1 hoặc nhiều cầu thủ theo kèm sát 1 cầu thủ địch, áp dụng với các cầu thủ quá khó để thay phiên kèm (ví dụ như Messi).

– Positional play: Rất khó để định nghĩa phong cách chiến thuật này, có thể hiểu nôm na là một chuỗi các hành động di chuyển không bóng của các cầu thủ, kể cả trong tấn công và phòng ngự để điều chỉnh đội hình tùy biến theo diễn biến trên sân để tạo ra những tình huống có lợi và tận dụng các tình huống đó. Người nổi tiếng nhất với phong cách chơi này hiện nay – đúng rồi đấy – là Pep Guardiola.

– Drop deep/Sit deep: Kéo đội hình về gần sát khung thành để tử thủ và cho đối phương cầm nhiều bóng hơn, nói đại ý là dựng xe bus.

Từ vựng về chuyền chọt (passing):

Do nhóm này quá dễ với những từ quen thuộc như cross, creative pass hay key pass, mình chỉ muốn làm rõ một từ là “Sequence”. Một sequence được định nghĩa là chuỗi các đường chuyền được thực hiện bởi một đội đang kiểm soát bóng, được xác định từ đường chuyền đầu tiên kể từ lúc đoạt lại bóng đến đường chuyền cuối cùng trước khi mất bóng hoặc dứt điểm. Có thể hiểu là: đội nào có sequence càng ngắn thì lối chơi càng trực diện, gọn gẽ hơn và ngược lại.

 Từ vựng về các vị trí đặc biệt trên sân (player roles):

– Pivot: Một cầu thủ thường xuyên di chuyển giữa vị trí giữa hàng tiền vệ và hàng hậu vệ với công việc quan trọng nhất là phân phối bóng đến các điểm nóng trên sân. Bản thân chữ “pivot” nghĩa là trục nên một Pivot có thể hiểu là cầu thủ có nhiệm vụ kéo trục chính trong một pha lên bóng. Vị trí này rất phổ biến vào những năm sơ đồ 4-2-3-1 và 4-4-2 thịnh hành, với 2 cầu thủ tiền vệ trung tâm được gọi là “double pivot”.

– Ball-carrier: Cầu thủ có nhiệm vụ kéo bóng lên phía trước để xuyên phá các lớp phòng ngự của địch. Những cầu thủ đá role này thường có khả năng rê dắt tốt để giữ bóng, chống chịu được tốt trước các đợt pressing của địch mà không mất bóng và đặc biệt là khả năng 1-1 để thoát khỏi người kèm mình. Vd tiêu biểu: Modric, De Bruyne, Messi, Moussa Dembele,…

– Playmaker: Cầu thủ thường xuyên thực hiện các đường key passes trong các pha tấn công để mở không gian (open space) cho đồng đội chạy chỗ, hiểu theo ngôn ngữ của các con dân normie là “tiền vệ sáng tạo”. Ngoài ra, playmaker còn có khả năng cầm nhịp, tức là quyết định độ nhanh chậm của một pha transition cũng như là cầu thủ trung tâm trong các tình huống dàn xếp tấn công. Playmaker không nhất thiết phải là tiền vệ mà có thể là bất kỳ vị trí nào trên sân.

– Sweeper-keeper: Những thủ môn có khả năng chơi chân tốt, thường xuyên tham gia vào các tình huống thoát pressing của đội nhà hoặc có xu hướng rời xa khung thành để nhận bóng/cản bóng. Sweeper-keeper không chỉ thi đấu như một thủ môn mà còn có thể là hậu vệ cuối cùng để bọc lót cho đồng đội.

– Wingers: Các cầu thủ chạy cánh có xu hướng bám biên.

– Wide midfielder: tiền vệ có xu hướng chơi dọc sát đường biên để kéo dãn đội hình địch hoặc hỗ trợ hậu vệ/tiền đạo cánh. Cần phân biệt rõ với winger vì wide midfielder không phải là cầu thủ đứng cao nhất ở cánh của anh ta, đồng thời phải quản lý khoảng không gian ở khu vực giữa sân nhiều hơn.

– Cut-Insider: Các cầu thủ chạy cánh nghịch chân thuận có lối chơi điển hình là rê bóng từ half-space sau đó ngoặt bóng (cut inside) vào khu vực sát vòng 16m50 để cứa lòng. E hèm, Robben?

– Regista/Deep-Lying Playmaker: Cầu thủ thi đấu ở vị trí mỏ neo cuối cùng trong hàng tiền vệ nhưng thường đảm đương công tác phân phối bóng (distribution) đến các khu vực trên sân hoặc tự mình kiến tạo. Lối chơi này chỉ khả dụng nếu có sự hỗ trợ của một vài tiền vệ cơ bắp khác trên sân.

Tham khảo Theo: Gia Phú- FC Eric Barcelona

 

Leave a Reply

*